Lớp 9

Soạn bài Mây và sóng lớp 7 trang 23 Tập 2 – Cánh diều

Hướng dẫn giải và trả lời câu hỏi trong bài Mây và sóng lớp 7 trang 23 Tập 2 bộ sách Cánh diều chính xác nhất, mời các em học sinh và phụ huynh tham khảo.

Soạn Ngữ văn lớp 7 Bài: Mây và sóng trang 23 (Cánh diều)

1. Chuẩn bị

Yêu cầu (trang 23 SGK Ngữ văn lớp 7 Tập 2):

Bạn đang xem: Soạn bài Mây và sóng lớp 7 trang 23 Tập 2 – Cánh diều

– Đọc trước bài thơ Mây và sóng, tìm hiểu thêm về nhà thơ Ra-bin-đra-nát Ta-go (Rabindranath Tagore).

– Nhớ lại những trò chơi với mẹ hoặc người thân trong gia đình khi em còn nhỏ và chia sẻ với bạn bè về cảm xúc của mình khi chơi những trò chơi đó.

Trả lời: 

– Nhà thơ Ta-go: Ta-go (1861-1941) là đại thi hào của Ấn Độ. Năm 1913, Ta-go được giải Nô-ben về văn chương với tập thơ “Thơ Dâng”. Ông là nhà nhân đạo chủ nghĩa vĩ đại, một nghệ sĩ nhân tài để lại một sự nghiệp văn học đồ sộ:

+ 52 tập thơ, tiêu biểu nhất là các tập thơ: Thơ Dâng (1913), Người làm vườn (1914), Mùa hái quả (1915), Trăng non (1915), Tặng phẩm của người yêu (1918)…

+ 42 vở kịch: Sự tar thù của tự nhiên (1883), Vua và hoàng hậu (1889), …

+ 12 bộ tiểu thuyết: Gôra, Đắm thuyền, …

+ Trên 3000 bức họa còn được lưu trữ trong các bảo tàng nghệ thuật, hàng trăm ca khúc và ngót 200 truyện ngắn, …

+ Phong cách sáng tác: Thơ của ông thể hiện tinh thần dân tộc và dân chủ sâu sắc, tinh thần nhân văn cao cả và chất trữ tình triết lí nồng đượm; sử dụng thành công những hình ảnh thiên nhiên mang ý nghĩa tượng trưng, hình thức so sánh, liên tưởng về thủ pháp trùng điệp. Năm 1913, Ta-go trở thành tác giả người châu Á đầu tiên nhận được giải thưởng Nô-ben về văn học.

– Trò chơi hồi nhỏ: cả nhà quây quần bên bếp lửa trong trời đông và chơi oẳn tù tì, cảm xúc lúc đó rất vui vì cha mẹ luôn nhường cho các con thắng.

2. Đọc hiểu 

* Nội dung chính: Bài thơ mang sắc điệu trữ tình như một khúc đồng dao thể hiện niềm giao cảm thần tiên của tâm hồn tuổi thơ với mây và sóng, với thiên nhiên kì diệu. Qua đó thể hiện tình yêu mẹ và mơ ước kì diệu của tuổi thơ.

Soạn bài Mây và sóng | Hay nhất Soạn văn 7 Cánh diều

* Trả lời câu hỏi giữa bài: 

Câu 1 (trang 24 SGK Ngữ văn lớp 7 Tập 2): Chú ý sự tưởng tượng của em bé và các hình ảnh đẹp trong đoạn thơ.

Trả lời: 

– Sự tưởng tượng của em bé: Em bé tưởng tượng đám mây trên bầu trời đang nói chuyện cùng em và em cùng trò truyện với mây.

– Hình ảnh đẹp trong đoạn thơ: bình minh vàng, vầng trăng bạc.

Câu 2 (trang 24 SGK Ngữ văn lớp 7 Tập 2): Những hình ảnh thiên nhiên nào được nhắc đến trong toàn bộ bài thơ?

Trả lời: 

– Những hình ảnh thiên nhiên được nhắc đến trong toàn bộ bài thơ: mây và sóng.

Câu 3 (trang 24 SGK Ngữ văn lớp 7 Tập 2): Chú ý lời nói của em bé sau lời mời gọi của những người “trên mây” và “trong sóng”.

Trả lời: 

– Lời nói của em bé sau lời mời gọi của những người “trên mây” và “trong sóng”: Em bé đều nghĩ về mẹ (mẹ đang đơi, mẹ mong muốn ở nhà), không nghe theo lời mời gọi ngọt ngào mà luôn đặt mẹ lên trên các cuộc vui.

* Trả lời câu hỏi cuối bài: 

Câu 1 (trang 25 SGK Ngữ văn lớp 7 Tập 2): Về hình thức, văn bản Mây và sóng có gì khác so với các văn bản thì em đã học ở Bài 2 trong sách Ngữ văn 7, tâp một? Bài thơ có sự kết hợp của những phương thức biểu đạt nào (tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh,…)?

Trả lời: 

– Về hình thức, văn bản Mây và sóng khác so với các văn bản thì em đã học ở Bài 2 là: 

Mây và sóng

Văn bản bài 2

– Số từ không cố định trong dòng thơ

– Cả bài thơ liền mạch không chia nhỏ các đoạn thơ

– Số từ cố định trong dòng thơ (4/5 từ)

– Bài thơ chia làm nhiều khổ/ đoạn nhỏ khác nhau.

– Bài thơ có sự kết hợp của những phương thức biểu đạt: tự sự, miêu tả, biểu cảm

Câu 2 (trang 25 SGK Ngữ văn lớp 7 Tập 2): Bài thơ có thể chia làm hai phần (phần 1: từ đầu đến “bầu trời xanh thẳm”: phần 2: còn lại). Em hãy chỉ ra những nét giống nhau và khác nhau của hai phần đó về số dòng, hình ảnh, cách tổ chức mỗi phần.

Trả lời: 

 

Phần 1

Phần 2

Giống nhau

Kết cấu, số dòng thơ, cách xây dựng hình ảnh đều theo trình tự thuật lại lời rủ rê, lời từ chối và sự tưởng tượng sáng tạo trò chơi.

Khác nhau

+ Đối tượng: mây

+ Trò chơi: con là mây và mẹ là trăng

+ Không gian : trên trời

→ Tác dụng: Tạo sự trùng điệp, nâng cao, làm nổi bật chủ đề – Tình mẹ con.

+ Đối tượng: sóng

+ Trò chơi: con là sóng và mẹ là bến bờ kì lạ.

+ Không gian: dưới biển.

=> Phần thứ hai cho ý thơ trọn vẹn hơn, tác động trùng điệp, hô ứng, khẳng định những tình cảm đã được thể hiện trong thử thách thứ nhất.

Câu 3 (trang 25 SGK Ngữ văn lớp 7 Tập 2): Cuộc vui chơi của những người “trên mây” và “trong sóng” hấp dẫn ở chỗ nào? Tại sao em bé không tham gia những cuộc vui đó?

Trả lời: 

– Cuộc vui chơi của những người “trên mây” và “trong sóng” hấp dẫn ở chỗ: được tự do vui chơi, ca hát từ sáng sớm đến tối muộn, được vui đùa thỏa thích với bình minh vàng, vầng trăng bạc, ngao du khắp các nơi.

– Em bé không tham gia vì nhớ tới mẹ đang chờ ở nhà, vì nhớ tới mong muốn của mẹ là muốn em ở nhà buổi chiều. Chính mẹ em bé, tình yêu thương của mẹ dành cho em đã trở thành sợi dây vô hình buộc chặt em bé ở lại, buộc chặt tâm trí em với lòng mẹ.

=> Tình yêu mẹ vẫn luôn chiến thắng để từ chối những lời gọi.

Câu 4 (trang 25 SGK Ngữ văn lớp 7 Tập 2): Theo em, vì sao những trò chơi do em bé tạo ra lại thú vị và hay hơn?

Trả lời: 

– Theo em những trò chơi do em bé tạo ra lại thú vị và hay hơn là vì ở đó có hai mẹ con cùng nhau vui đùa. Chính mẹ em bé, tình yêu thương của mẹ dành cho em đã trở thành sợi dây vô hình buộc chặt em bé ở lại, buộc chặt tâm trí em với lòng mẹ. Cũng chính vì điều đó mà những trò chơi sáng tạo của em bé thú vị chẳng kém trò chơi của những người sống trên mây và sóng.

Câu 5 (trang 25 SGK Ngữ văn lớp 7 Tập 2): Những hình ảnh thiên nhiên được nhắc tới trong các trò chơi của em bé có đặc điểm như thế nào? Qua đó, nhà thơ muốn thể hiện điều gì?

Trả lời: 

– Những hình ảnh thiên nhiên được nhắc tới trong các trò chơi của em bé có đặc điểm: giống với hình ảnh tự nhiên, có mây, có trăng, có sóng, có bầu trời xanh thẳm

 => Qua đó nhà thơ muốn thể hiện sự gắn bó, yêu thương sâu sắc. Dù ở bất cứ nơi đâu, em bé vẫn muốn ở cùng với mẹ. Nổi bật hẳn lên trong phần hai cũng như là một điểm nhấn cho toàn bộ tác phẩm chính là câu thơ và không ai trên thế gian này biết mẹ con ta ở chốn nào. Tại sao em bé lại nói như vậy, đó là bởi em tin chắc rằng tình cảm giữa em và người mẹ sẽ ở khắp mọi nơi, mọi chốn. Tình cảm ấy sâu sắc đến mức không ai có thể hiểu hết được. Tình mẫu tử là thiêng liêng, bất diệt, hòa cả vào trong thiên nhiên bao la, thơ mộng.

Câu 6 (trang 25 SGK Ngữ văn lớp 7 Tập 2): Theo em, qua bài thơ, tác giả muốn gửi đến người đọc thông điệp gì?

Trả lời: 

Theo em, qua bài thơ, tác giả muốn gửi đến người đọc thông điệp về tình mẫu tử: 

+ Sức mạnh của tình mẫu tử, ngợi ca tình mẫu tử. Tấm lòng mẹ bao la như “bến bờ kì lạ”, tình mẹ con gắn bó như mây – trăng, biển – bờ, tình cảm ấy đã lên kích cỡ vũ trụ, thiêng liêng, bất diệt.

+ Tình mẫu tử chính là điểm tựa vững chắc trước những cám dỗ cuộc đời. 

+ Hạnh phúc không xa xôi bí ẩn, nó ở quanh ta, do chúng ta tạo nên.

►CLICK NGAY vào nút TẢI VỀ dưới đây để tải về Soạn Văn 7 Bài: Mây và sóng trang 23 Tập 2 – Cánh diều file PDF hoàn toàn miễn phí.

Soạn văn 7 CD Tập 2 bài Mây và sóng trang 23 chi tiết, dễ hiểu nhất, giúp các em học sinh hiểu và tiếp thu bài giảng đạt hiệu quả.

Đăng bởi: Trường THCS Trương Công Thận

Chuyên mục: Lớp 9

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button

Bạn đang dùng trình chặn quảng cáo!

Bạn đang dùng trình chặn quảng cáo!